Kết quả thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 và phương hướng đẩy mạnh cải cách hành chính nhà nước trong thời gian tới

09/08/2016 Lượt xem: 4576 In bài viết

1. Kết quả chủ yếu đã đạt được trong triển khai thực hiện Nghị quyết 30c

1.1 Công tác chỉ đạo, điều hành cải cách hành chính từ Trung ương đến các địa phương có tiến bộ rõ rệt

Sau khi Chính phủ ban hành Nghị quyết 30c, với vai trò cơ quan thường trực về cải cách hành chính của Chính phủ, Bộ Nội vụ đã xây dựng văn bản hướng dẫn, tổ chức triển khai thực hiện. Theo đó, công tác lập kế hoạch, báo cáo cải cách hành chính đã được các bộ, ngành, địa phương thực hiện thống nhất. Ngày 22/5/2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 07/CT-TTg về việc đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020, trong đó quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu và một số nhiệm vụ trọng tâm gắn với trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương bảo đảm cải cách hành chính được thực hiện quyết liệt, hiệu quả hơn, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Ngày 28/3/2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 442/QĐ-TTg về việc kiện toàn Ban chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ với chức năng giúp Thủ tướng Chính phủ nghiên cứu, chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện công tác cải cách hành chính theo chương trình, kế hoạch cải cách hành chính của Chính phủ; triển khai thực hiện hiệu quả Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020.

Để tăng cường công tác theo dõi, đánh giá cải cách hành chính, Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã ban hành Quyết định số 1294/QĐ-BNV ngày 03/12/2012 phê duyệt Đề án xác định Chỉ số cải cách hành chính của các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Bộ Nội vụ đã tổ chức xác định và công bố Chỉ số cải cách hành chính các năm 2012 và 2013, trong thời gian tới sẽ công bố Chỉ số cải cách hành chính năm 2014. Đây là công cụ quản lý mới, nhằm đánh giá chính xác, khách quan, lượng hóa kết quả cải cách hành chính hàng năm của các bộ, các tỉnh. Đến nay, đã có hơn 50 tỉnh, thành phố và một số bộ, ngành ban hành bộ tiêu chí để xác định Chỉ số cải cách hành chính của các cơ quan, đơn vị trực thuộc.

Cùng với việc sử dụng công cụ là Chỉ số cải cách hành chính trong theo dõi, đánh giá, Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã ban hành Quyết định số 1383/QĐ-BNV ngày 28/12/2012 phê duyệt Đề án phương pháp đo lường sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước. Các địa phương và một số bộ, ngành đã áp dụng để đánh giá đối với việc cung cấp dịch vụ hành chính công của các đơn vị trực thuộc. Bộ Nội vụ đã ký kết với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam thực hiện Chương trình phối hợp triển khai xác định Chỉ số hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước năm 2015. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế đã ban hành Đề án phương pháp đo lường sự hài lòng của người dân đối với chất lượng dịch vụ giáo dục công lập, dịch vụ y tế công để tiến hành triển khai thực hiện trong thời gian tới.

Công tác thông tin, tuyên truyền, kiểm tra cải cách hành chính đã được Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương quan tâm thực hiện, góp phần làm chuyển biến trong nhận thức, thái độ và hành động của đội ngũ công chức, viên chức, người dân về mục tiêu, nhiệm vụ và trách nhiệm đối với công tác cải cách hành chính.

1.2 Hệ thống thể chế tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững

Từ năm 2011 đến 2014, Quốc hội đã ban hành 79 luật, pháp lệnh. Hàng năm, Chính phủ ban hành trung bình 140 nghị định hướng dẫn thi hành luật.

Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013 được thông qua tại Kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIII, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 251/QĐ-TTg ngày 13/02/2014 về Kế hoạch của Chính phủ tổ chức triển khai thi hành Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong đó có 82 dự án luật, pháp lệnh cần sửa đổi, bổ sung, ban hành mới từ nay đến năm 2020. Theo đó, tất cả các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã ban hành Kế hoạch tổ chức thi hành Hiến pháp và tổ chức thực hiện đúng với yêu cầu của Chính phủ và phù hợp với điều kiện, đặc điểm của từng bộ, cơ quan, địa phương. Công tác tổ chức rà soát, lập danh mục đề xuất văn bản quy phạm pháp luật cần bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới phù hợp với quy định của Hiến pháp đã được chú trọng triển khai.

Các bộ, ngành, địa phương chú trọng triển khai kế hoạch xây dựng văn bản quy phạm pháp luật hàng năm, thông qua đó, thể chế trên các lĩnh vực quản lý nhà nước được bổ sung, hoàn thiện, cụ thể hóa, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế - xã hội. Công tác rà soát, thống kê, hệ thống hóa văn bản pháp luật được các bộ, ngành, địa phương quan tâm thực hiện nhằm phát hiện những bất cập trong các văn bản để kịp thời kiến nghị với các cấp có thẩm quyền xử lý. Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, thanh tra, kiểm tra việc tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật đã được chú trọng hơn, qua đó nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người dân và toàn xã hội, kịp thời phát hiện những sai sót, bất cập trong quản lý để có giải pháp xử lý phù hợp, bảo đảm hệ thống thể chế, pháp luật được thực thi nghiêm túc, đầy đủ trong thực tế.

1.3 Điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước phù hợp với điều kiện mới

Ngày 18/4/2012, Chính phủ ban hành Nghị định số 36/2012/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ; Chính phủ đã ban hành 25 nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của 25 bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ. Thông qua đó, mô hình bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực tiếp tục khẳng định tính phù hợp trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của cơ quan hành chính. Theo quy định của Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ đã kiện toàn tổ chức bộ máy của mình theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Đối với hệ thống tổ chức ở địa phương, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014 và Nghị định số 37/2014/ NĐ-CP ngày 05/5/2014 quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, tạo cơ sở pháp lý để tiếp tục rà soát chức năng, nhiệm vụ, kiện toàn tổ chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, cấp huyện, bảo đảm tổ chức quản lý thống nhất, thông suốt đối với ngành, lĩnh vực từ Trung ương đến địa phương.

Tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức chính quyền địa phương. Đây là những luật có tinh thần cải cách mạnh mẽ, được thực thi trong thời gian tới sẽ góp phần xây dựng bộ máy hành chính từ Trung ương đến địa phương thống nhất, thông suốt, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong thời kỳ mới.

Công tác quản lý biên chế đã được thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ, đặc biệt là sau khi có Kết luận số 64-KL/TW ngày 28/5/2013 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở. Ngày 20/11/2014 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 108/2014/NĐ-CP về chính sách tinh giản biên chế. Bộ Nội vụ đã phối hợp với Bộ Tài chính ban hành Thông tư liên tịch số 01/2015/TTLT-BNV-BTC ngày 14/4/2015 hướng dẫn thực hiện. Bộ Nội vụ đã xây dựng trình Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015, trong đó xác định rõ mục tiêu, quan điểm và các giải pháp đồng bộ để thực hiện tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

Phân cấp quản lý nhà nước giữa Chính phủ và chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiếp tục được thực hiện có hiệu quả trên các lĩnh vực quản lý nhà nước, bảo đảm tính tự chủ trong tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương và phát huy sự năng động, sáng tạo trong thực hiện chức năng quản lý nhà nước của bộ máy hành chính các cấp ở địa phương. Thông qua đó, giảm bớt các công việc có tính sự vụ để các bộ, ngành trung ương tập trung vào khâu xây dựng thể chế, hoạch định chính sách và thực hiện thanh tra, kiểm tra, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các ngành, lĩnh vực.

1.4 Cải cách thủ tục hành chính gắn với cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông được thực hiện đồng bộ, hiệu quả, tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của người dân và doanh nghiệp

Cải cách thủ tục hành chính được xác định là một khâu trọng tâm và đã được triển khai ở tất cả các cấp hành chính theo hướng đơn giản hóa, tạo môi trường thuận lợi, thông thoáng cho phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm lợi ích chính đáng và quyền làm chủ của nhân dân. Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, ngành Thuế, Hải quan đã triển khai có hiệu quả mô hình một cửa liên thông, nâng cao trách nhiệm, sự phối hợp của cơ quan thuế, cơ quan hải quan với các ngành, đơn vị liên quan trong quản lý và cải cách thủ tục hành chính. Tổng cục Thuế đã cùng Bảo hiểm Xã hội Việt Nam ký Quy chế phối hợp và trao đổi thông tin về mã số thuế (để chuyển thành mã số quản lý bảo hiểm xã hội), tiến tới sử dụng mã số doanh nghiệp để quản lý thuế, góp phần giảm bớt các thủ tục hành chính cho doanh nghiệp. Tính đến ngày 01/01/2015 số giờ nộp thuế của doanh nghiệp đã giảm được khoảng 370 giờ/872 giờ. Trong lĩnh vực hải quan, đã triển khai thực hiện hệ thống VNACCS/VCIS, qua đó thời gian đăng ký tờ khai hải quan chỉ còn khoảng 3 giây, giải phóng hàng đối với hàng nhập khẩu đã giảm 7,6 giờ (18%). Thời gian trung bình từ khi doanh nghiệp đăng ký tờ khai đến khi quyết định thông quan đối với hàng xuất khẩu giảm 9,6 giờ (58%). Đối với lô hàng phân luồng xanh, không phải nộp thuế thì thời gian này chỉ có 4 giây. Trong năm 2014, cơ chế một cửa quốc gia đã kết nối chính thức Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) với Bộ Công Thương (3 thủ tục), Bộ Giao thông vận tải (3 thủ tục). Đối với cơ chế một cửa ASEAN, Việt Nam đang trong quá trình đàm phán ký Nghị định thư về khung pháp lý một cửa ASEAN và chuẩn bị triển khai mở rộng dự án cơ chế một cửa ASEAN vào năm 2015, tiến tới hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN vào đầu năm 2016.

Tính đến tháng 6/2015, các bộ, ngành đã ban hành theo thẩm quyền hoặc trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để đơn giản hóa 4.431/4.723 thủ tục hành chính phải đơn giản hóa tại 25 nghị quyết chuyên đề của Chính phủ, đạt tỷ lệ 93,8%. Một số đề án về cải cách thủ tục hành chính như: Đề án tổng thể đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công dân và các cơ sở dữ liệu liên quan đến quản lý dân cư giai đoạn 2013-2020; Đề án thực hiện liên thông các thủ tục hành chính: đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi;  Đề án thiết lập hệ thống thông tin tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về quy định hành chính và tình hình, kết quả giải quyết thủ tục hành chính tại các cấp chính quyền; Đề án liên thông thủ tục công chứng, đăng ký quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất và thuế… đang được các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện theo kế hoạch.

Thực hiện Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg ngày 25/3/2015 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, hầu hết các địa phương trong cả nước đã triển khai mô hình một cửa liên thông hiện đại cấp huyện. Một số địa phương (Quảng Ninh, Bình Dương, Đà Nẵng...) đang thí điểm tổ chức các Trung tâm hành chính công với các mô hình khác nhau để giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa tập trung.

1.5 Cải cách chế độ công vụ, công chức, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức

Hệ thống văn bản pháp luật cụ thể hóa quy định của Luật cán bộ, công chức, Luật Viên chức tiếp tục được xây dựng, hoàn thiện. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1557/QĐ-TTg ngày 18/10/2012 phê duyệt Đề án đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức nhằm xây dựng một nền công vụ "chuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động, minh bạch, hiệu quả". Trong đó, tiếp tục hoàn thiện hệ thống thể chế quản lý công chức, viên chức theo quy định của Luật cán bộ, công chức và Luật Viên chức; triển khai xây dựng cơ cấu công chức, viên chức theo vị trí việc làm; hệ thống tiêu chuẩn chức danh, công chức, viên chức tiếp tục được xây dựng, hoàn thiện; đổi mới phương thức đánh giá công chức, viên chức và xây dựng một số cơ chế, chính sách nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức. Bộ Nội vụ đã thành lập Hội đồng thẩm định và phối hợp với các bộ, ngành, địa phương hoàn thiện Đề án vị trí việc làm trước khi phê duyệt. Có 88 ngạch công chức chuyên ngành thuộc 17 ngành, lĩnh vực đã được Bộ Nội vụ ban hành và đang được sử dụng trong công tác quản lý công chức.

Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/ 2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 về đánh giá và phân loại cán bộ, công chức, viên chức, tạo cơ sở pháp lý quan trọng để đổi mới phương thức đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, viên chức dựa trên kết quả thực hiện nhiệm vụ.

Công tác thí điểm thi tuyển cạnh tranh các chức danh lãnh đạo, quản lý đã được một số bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện đạt kết quả. Ngày 26/5/2015, Bộ Chính trị đã có Thông báo kết luận số 202-TB/TW về Đề án "Thí điểm đổi mới cách tuyển chọn lãnh đạo quản lý cấp vụ, cấp sở, cấp phòng". Theo đó, Bộ Chính trị đã giao Ban cán sự Đảng Chính phủ chủ trì, phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương và Ban cán sự Đảng Bộ Nội vụ hoàn thiện Đề án để tổ chức thực hiện. Sau khi Đề án được phê duyệt, việc thi tuyển các chức danh lãnh đạo, quản lý cấp vụ, cấp sở, cấp phòng sẽ được chính thức triển khai tại tất cả các bộ, ngành, địa phương. Việc tuyển dụng công chức bằng hình thức thi trên máy tính trực tuyến và thi nâng ngạch theo hình thức cạnh tranh tiếp tục được triển khai thực hiện tại một số bộ, ngành, địa phương, tạo sự công khai, minh bạch, công bằng, hiệu quả trong công tác tuyển dụng công chức, góp phần lựa chọn đội ngũ công chức có đủ năng lực, phẩm chất, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị trong bộ máy hành chính.

1.6 Từng bước hoàn thiện thể chế, pháp luật về quản lý tài chính công

Thể chế, luật pháp, cơ chế chính sách quản lý thu chi ngân sách và quản lý sử dụng tài sản nhà nước từng bước được đổi mới, hoàn thiện và ngày càng phù hợp hơn. Việc luật hóa và công khai hoá các nguồn thu và các khoản chi ngân sách nhà nước đã nâng cao tính dân chủ và minh bạch trong quản lý ngân sách quốc gia. Thủ tục hành chính trong thu, chi ngân sách nhà nước được cải cách mạnh mẽ theo hướng bảo đảm công khai, công bằng, thuận lợi, đúng pháp luật. Việc quản lý, sử dụng và đầu tư mua sắm tài sản công được quy định chặt chẽ hơn. Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí hành chính đối với cơ quan nhà nước và cơ chế tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức khoa học và công nghệ công lập tiếp tục được triển khai thực hiện.

Các cơ chế, chính sách về thuế, tiền lương, tiền công, bảo hiểm, an sinh xã hội tiếp tục được Chính phủ và các bộ, ngành nghiên cứu, hoàn thiện trong quá trình cải cách. Cơ chế, chính sách tài chính đối với doanh nghiệp nhà nước; quản lý việc vay và trả nợ nước ngoài, nợ Chính phủ, nợ quốc gia, nợ công; phân bổ ngân sách nhà nước cho cơ quan hành chính nhà nước tiếp tục được đổi mới.

Chính phủ đã ban hành Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 quy định về cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập thay thế Nghị định số 43/2006/NĐ-CP. Trong thời gian tới, Chính phủ sẽ xem xét ban hành các nghị định về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các đơn vị sự nghiệp công lập từng ngành, lĩnh vực cụ thể.

Các bộ, ngành và địa phương tích cực chỉ đạo, triển khai thực hiện cải cách tài chính công, tổ chức thực hiện tốt công tác quản lý thu, chi ngân sách nhà nước, công tác quản lý tài sản; xây dựng đề án tự chủ tài chính trong giai đoạn tới theo quy định của Nghị định số 16/ 2015/NĐ-CP. Các cơ chế, chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các lĩnh vực: giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể dục - thể thao tiếp tục được quan tâm triển khai nhằm huy động nguồn lực để đầu tư phát triển hệ thống dịch vụ công. Các bộ, ngành, địa phương tiếp tục hoàn thành việc phê duyệt đề án thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các tổ chức khoa học - công nghệ công lập trực thuộc theo quy định của Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05/9/2005 của Chính phủ; đồng thời kiên quyết cắt kinh phí đối với các tổ chức khoa học - công nghệ không chuyển sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Các tổ chức khoa học - công nghệ công lập cần công khai, minh bạch trong việc giao, nghiệm thu kết quả thực hiện đề tài khoa học. Chính phủ đã ban hành Nghị định số 15/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 về đầu tư theo hình thức đối tác công tư nhằm huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong xã hội cho đầu tư phát triển, qua đó cải thiện và nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công cho người dân, xã hội.

1.7 Ứng dụng công nghệ thông tin nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính

Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo, điều hành quyết liệt nhằm thúc đẩy việc ứng dụng công nghệ thông tin trong cơ quan nhà nước, hoàn thiện và đẩy mạnh hoạt động của mạng thông tin điện tử hành chính của Chính phủ trên internet. Một số địa phương đã triển khai xây dựng chính quyền điện tử. Các bộ, ngành và địa phương tăng cường áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2000 và từng bước chuyển đổi sang hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2008 vào hoạt động quản lý nhà nước nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính công khai, minh bạch trong thực thi công vụ của cán bộ, công chức trong hệ thống bộ máy hành chính nhà nước.

Trụ sở cơ quan hành chính nhà nước được quan tâm đầu tư xây dựng khang trang, hiện đại. Một số địa phương đã xây dựng được Trung tâm hành chính tập trung của tỉnh, thành phố, quận, huyện, như: Đà Nẵng, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Quảng Ninh... tạo điều kiện cho việc đổi mới công tác quản lý, tạo thuận lợi cho việc ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng trang thiết bị hiện đại trong hoạt động của cơ quan hành chính.

2. Một số tồn tại, hạn chế

- Hoạt động rà soát các luật, pháp lệnh của các bộ, cơ quan chưa đáp ứng yêu cầu về tiến độ, chất lượng; chưa công bố được danh mục các văn bản của các bộ, cơ quan, địa phương phải dừng thi hành. Tiến độ xây dựng một số dự án luật, pháp lệnh trực tiếp triển khai thi hành Hiến pháp còn chậm.

- Bộ máy hành chính còn cồng kềnh, hoạt động kém hiệu quả. Công tác kiểm tra sau phân cấp chưa thường xuyên. Việc tinh giản biên chế chưa đạt được mục tiêu, yêu cầu đề ra. Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức tuy đã được nâng lên so với trước nhưng chưa đáp ứng yêu cầu quá trình phát triển. Chưa hoàn thành việc xây dựng cơ cấu công chức, viên chức theo vị trí việc làm; công tác cải cách tiền lương triển khai còn chậm, tiền lương chưa thực sự là động lực thúc đẩy cán bộ, công chức thực thi công vụ.

- Thủ tục hành chính còn rườm rà, đặc biệt là trong các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến người dân, doanh nghiệp như thuế, hải quan, đất đai. Việc thực thi thủ tục hành chính tại một số cơ quan hành chính nhà nước chưa nghiêm, tình trạng cán bộ, công chức nhũng nhiễu khi giải quyết thủ tục hành chính chưa được cải thiện, nhiều trường hợp bị dư luận xã hội, báo chí phản ánh. Vẫn còn một số bộ, cơ quan, địa phương chưa kịp thời công bố và cập nhật thủ tục hành chính trong các văn bản pháp luật mới ban hành.

- Một số nội dung của Đề án đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức còn chậm được triển khai thực hiện, như việc triển khai xác định vị trí việc làm và cơ cấu công chức, viên chức; xây dựng và hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh ngạch công chức; tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp của viên chức; xây dựng và đưa vào sử dụng thống nhất phần mềm cơ sở dữ liệu đội ngũ cán bộ, công chức; hình thành hệ thống thông tin quản lý cán bộ, công chức trên phạm vi toàn quốc; triển khai việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác thi tuyển, thi nâng ngạch công chức; quy định chính sách thu hút, phát hiện, trọng dụng và đãi ngộ người có tài năng trong hoạt động công vụ...

- Cải cách tài chính công thực hiện mới chỉ là bước đầu, kết quả đạt được còn hạn chế. Các cơ quan có thẩm quyền quản lý chưa mạnh dạn giao quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp công lập, thiếu các giải pháp khuyến khích các đơn vị sự nghiệp công lập đăng ký thực hiện tự chủ; còn chậm đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động dịch vụ công.

- Triển khai ứng dụng công nghệ thông tin, hiện đại hóa nền hành chính ở một số bộ, tỉnh còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế. Tỷ lệ cán bộ, công chức được cung cấp hộp thư điện tử chính thức còn ít, hệ thống thư điện tử và hệ thống quản lý văn bản và điều hành chưa được kết nối trên diện rộng, chưa thực sự khai thác hết những tính năng, chức năng của các hệ thống quản lý văn bản và điều hành. Tuy số lượng dịch vụ công trực tuyến được cung cấp trên các trang/cổng thông tin điện tử ngày càng tăng, nhưng chủ yếu là dịch vụ công trực tuyến mức độ 1 và 2; còn ít cơ quan, đơn vị cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 4 trong tiếp nhận, xử lý hồ sơ trực tuyến. Kết quả áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 vào hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước còn hạn chế. Việc hiện đại hóa công sở chưa đồng bộ, dẫn tới manh mún, phân tán. Kết quả đầu tư xây dựng trụ sở xã, ứng dụng công nghệ thông tin vẫn chưa thực hiện được như mục tiêu đề ra.

- Công tác tuyên truyền, cung cấp thông tin tạo sự đồng thuận trong nhân dân và xã hội chưa hiệu quả, chưa đạt yêu cầu, do đó trong dư luận vẫn cho rằng cải cách hành chính còn chậm. Việc huy động sự tham gia, đóng góp ý kiến của người dân, tổ chức, doanh nghiệp là những đối tượng thụ hưởng thành quả của cải cách vào quá trình cải cách hành chính còn hạn chế.

3. Một số khó khăn trong triển khai Nghị quyết 30C/NQ-CP

- Cải cách hành chính là nhiệm vụ rộng lớn, phức tạp, liên quan đến tất cả các lĩnh vực của nền hành chính nên có tính liên ngành cao; vì vậy, công tác chỉ đạo, điều hành của các cấp, các ngành ở Trung ương và địa phương gặp nhiều khó khăn.

- Một số bộ, ngành, địa phương chưa thực sự quan tâm đến công tác cải cách hành chính nên chỉ đạo, điều hành chưa quyết liệt, chưa quan tâm đến khâu lập kế hoạch cải cách hành chính, bố trí nguồn lực và đôn đốc, kiểm tra thực hiện. Công tác tuyên truyền cải cách hành chính còn chậm, kém hiệu quả nên nhận thức của cán bộ, công chức về nhiệm vụ cải cách hành chính của Chính phủ và của cơ quan, đơn vị còn hạn chế.

- Việc bố trí kinh phí triển khai kế hoạch cải cách hành chính hàng năm đã được quy định cụ thể trong Nghị quyết số 30c, tuy nhiên trong thực tế triển khai còn lúng túng; nhiều kế hoạch cải cách hành chính của các bộ, ngành, địa phương không bố trí đủ kinh phí nên khó bảo đảm tính khả thi.

- Đội ngũ công chức làm công tác cải cách hành chính tại các bộ, ngành, địa phương còn thiếu về số lượng, tính chuyên nghiệp chưa cao nên khó khăn trong việc tham mưu, đề xuất chủ trương, biện pháp đẩy mạnh cải cách hành chính.

4. Phương hướng đẩy mạnh cải cách hành chính nhà nước giai đoạn tới

Một là, tăng cường công tác chỉ đạo, điều hành của các cấp, các ngành về cải cách hành chính, bảo đảm cải cách hành chính có chương trình, kế hoạch, mục tiêu cụ thể, có trọng tâm, trọng điểm và phải bố trí nguồn lực thỏa đáng để triển khai thực hiện. Coi trọng công tác thông tin, tuyên truyền để tạo sự đồng thuận, ủng hộ trong xã hội về mục tiêu, nhiệm vụ cải cách hành chính, hướng tới xây dựng một nền hành chính phục vụ. Tăng cường kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện công tác cải cách hành chính, gắn kết quả cải cách hành chính với trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước các cấp; thực hiện tốt công tác thi đua, khen thưởng trong cải cách hành chính.

Hai là, tăng cường lấy ý kiến người dân đối với việc xây dựng thể chế, đánh giá tinh thần, thái độ phục vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, chất lượng dịch vụ công; lấy sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với chất lượng cung cấp dịch vụ công là thước đo chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước.

Ba là, tiếp tục triển khai đồng bộ, toàn diện các nhiệm vụ cải cách theo Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020, bảo đảm có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng bộ, ngành, địa phương. Tập trung đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trên các lĩnh vực trọng tâm như đất đai, đầu tư, kinh doanh, thuế, hải quan, bảo hiểm xã hội... nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Bốn là, đẩy  mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật quy định về chức danh, tiêu chuẩn của từng vị trí việc làm của cán bộ, công chức, viên chức trong từng cơ quan, tổ chức, ngành, lĩnh vực, địa phương, làm cơ sở cho tinh giản tổ chức và tinh giản biên chế. Tăng cường tính công khai, minh bạch, trách nhiệm của hoạt động công vụ. Có chính sách đãi ngộ, động viên, khuyến khích cán bộ, công chức, viên chức hoàn thành tốt nhiệm vụ và có cơ chế loại bỏ, bãi miễn những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm kỷ luật, mất uy tín với nhân dân. Nâng cao năng lực, trình độ đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác cải cách hành chính ở các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, chính quyền địa phương các cấp.

Năm là, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan hành chính. Qua đó, giúp cho hoạt động của cơ quan hành chính được hiệu quả, công khai, minh bạch và nâng cao chất lượng phục vụ người dân và xã hội, từng bước hình thành chính phủ điện tử nhằm nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công, đáp ứng yêu cầu của người dân, doanh nghiệp và nâng cao chất lượng, hiệu quả chỉ đạo, điều hành, hoạt động của các cơ quan nhà nước.

Ban biên tập